Đại dương từ lâu được xem là tấm khiên khí hậu của Trái Đất. Nó hấp thụ phần lớn nhiệt dư thừa do hiệu ứng nhà kính, giúp kìm hãm tốc độ nóng lên toàn cầu. Nhưng tấm khiên ấy đang quá tải và bắt đầu rạn nứt. Chỉ trong một năm gần đây, lượng nhiệt mà đại dương hấp thụ tương đương 140 lần tổng sản lượng điện toàn cầu. Hệ quả là nhiệt độ bề mặt biển đã chạm mốc kỷ lục 21,1°C, mức cao chưa từng được ghi nhận.
Với Việt Nam, một trong những quốc gia có đường bờ biển dài và mật độ dân cư ven biển cao đây không còn là câu chuyện khoa học xa xôi. Biến đổi khí hậu đại dương đang tác động trực tiếp đến ngư nghiệp, nuôi trồng thủy sản, an ninh lương thực và an toàn đô thị ven biển.
Biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến đại dương như thế nào
Để hiểu vì sao tôm cá chết hàng loạt ở Cà Mau hay rạn san hô Côn Đảo suy thoái, cần nhìn sâu vào những quá trình hóa – lý đang diễn ra âm thầm dưới mặt nước biển.
Phần tầng nước biển
Khi nước biển bề mặt nóng lên, mật độ của nó giảm và nổi lên trên. Bên dưới là lớp nước lạnh, nặng hơn. Sự khác biệt này tạo ra hiện tượng phân tầng nước ổn định.
Hình dung đơn giản là lớp nước nóng giống như một cái nắp đậy chặt nồi canh. Hệ quả rất rõ ràng là cái nắp này ngăn dòng nước giàu dinh dưỡng (nitrat, phosphat) từ tầng sâu trồi lên bề mặt. Sinh vật phù du thiếu thức ăn. Chuỗi thức ăn biển bị đứt gãy, cá nhỏ giảm, cá lớn biến mất.
Đây là cú đánh trực diện vào hệ sinh thái biển ven bờ và ngành đánh bắt hải sản.

Axit hóa đại dương
Đại dương hấp thụ khoảng 26% lượng khí CO₂ do con người phát thải. Điều này giúp làm chậm biến đổi khí hậu trong khí quyển. Nhưng cái giá phải trả là axit hóa đại dương. Phản ứng hóa học cốt lõi diễn ra như sau: CO2+H2O→H2CO3 (Axit carbonic)
Axit carbonic phân ly, làm tăng ion H⁺, khiến độ pH của nước biển giảm. Các ion H⁺ dư thừa tiếp tục tranh chấp với ion carbonate (CO₃²⁻). Hệ quả là san hô, nghêu, sò, ốc, những loài cần canxi cacbonat (CaCO₃) để tạo vỏ và bộ xương không còn đủ vật liệu để sinh trưởng. Vỏ mỏng hơn, dễ vỡ hơn, chậm lớn hơn. Đó chính là loãng xương đại dương.
Dữ liệu quan trắc cho thấy, độ pH vùng biển phía Nam Việt Nam hiện chỉ còn khoảng 8,04, thấp hơn mức trung bình lịch sử. Đây là tín hiệu cảnh báo nghiêm trọng cho các vùng nuôi nghêu, hàu và thủy sản ven biển.
Đại dương mất oxy
Quy luật vật lý rất đơn giản: Nước càng nóng, khả năng hòa tan oxy càng thấp. Khi nhiệt độ đại dương tăng, oxy hòa tan thoát ra khỏi nước. Đồng thời, hiện tượng phân tầng ngăn oxy từ khí quyển khuếch tán xuống tầng sâu. Kết quả là sự hình thành của các vùng chết.
Trong những vùng này, nồng độ oxy hòa tan (DO) thấp đến mức cá và tôm không thể tồn tại. Chúng buộc phải di cư. Hoặc chết ngạt hàng loạt. Hiện tượng này đã được ghi nhận ngày càng nhiều tại các vùng biển ven bờ, cửa sông và khu vực nuôi trồng thủy sản, nơi con người phụ thuộc trực tiếp vào đại dương để sinh kế.
Xem thêm: Biến đổi khí hậu làm mực nước biển dâng lên như thế nào
Sự ảnh hưởng của biến đổi khí hậu ở biển Đông Việt Nam
Trên bản đồ nhiệt độ bề mặt biển toàn cầu, Biển Đông đang nóng lên nhanh hơn mức trung bình thế giới. Dữ liệu khí hậu cho thấy xác suất xuất hiện sóng nhiệt biển trong thập niên 2010 đã tăng gấp 4 lần so với thập niên 1980, từ 7% lên 28,4%. Xu hướng này không chỉ là thống kê. Nó đang tái định hình hệ sinh thái biển, nghề cá và sinh kế ven bờ của Việt Nam.
Điển hình, mùa hè 2024 đánh dấu một trong những sự kiện tẩy trắng san hô nghiêm trọng nhất từng ghi nhận tại vùng biển Việt Nam. So sánh giữa hai khu vực cho thấy vai trò quyết định của điều kiện hải dương học địa phương.
Côn Đảo
- Tỷ lệ tẩy trắng: 97,5% ở độ sâu 2 – 5 m
- Loài bị ảnh hưởng: Acropora (san hô cành) chết tới 98,5%
- Nguyên nhân chính: Nhiệt độ nước duy trì khoảng 32°C trong thời gian dài
- Hệ quả: Suy sụp cấu trúc rạn và mất nơi cư trú của nhiều loài cá
Nha Trang
- Tỷ lệ tẩy trắng: 33,6% (mức trung bình)
- Loài chủ đạo: Montipora (san hô lá)
- Yếu tố bảo vệ: Nước trồi giúp làm mát tầng mặt
- Bài học: Các vùng trú ẩn nhiệt có thể giảm rủi ro khí hậu
Sự khác biệt này cho thấy xác định và bảo vệ các khu vực có nước trồi tự nhiên như Ninh Thuận, Bình Thuận, Nha Trang là chìa khóa để bảo tồn nguồn gen san hô và tăng khả năng thích ứng trước biến đổi khí hậu.

Không chỉ san hô, nhiệt độ tăng kết hợp với phú dưỡng (dư thừa dinh dưỡng từ đất liền) đang kích hoạt các đợt nở hoa tảo độc. Tại Hà Tĩnh và dải ven biển miền Trung, hiện tượng nước biển chuyển đỏ do tảo Noctiluca scintillans xuất hiện ngày càng thường xuyên.
Khi tảo tàn lụi, chúng tiêu thụ lượng lớn oxy hòa tan, tạo ra các vùng thiếu oxy cục bộ. Kết quả là hải sản nuôi lồng bè chết hàng loạt, thiệt hại kinh tế tăng cao và rủi ro môi trường kéo dài.
Tác động kép của biến đối khí hậu lên vùng ven biển đồng bằng sông Cửu Long
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đang đối mặt với một cuộc khủng hoảng chồng chéo. Một phía là mực nước biển dâng từ Biển Đông. Phía còn lại là đất đang sụt lún ngay dưới chân. Hai lực này gặp nhau và khuếch đại rủi ro.
Theo các cập nhật thủy văn gần đây, ranh mặn 4‰, ngưỡng gây chết lúa trong mùa khô 2025 được dự báo xâm nhập sâu 50 – 62 km trên các sông chính như Vàm Cỏ.
Dù không khắc nghiệt như đợt hạn mặn lịch sử 2016, nhưng mặn đến sớm và biến động thất thường đang làm đảo lộn lịch thời vụ, tăng rủi ro cho lúa, cây ăn trái và nuôi trồng thủy sản.
Nguyên nhân kép của việc này là do:
- Nước biển dâng do giãn nở nhiệt đại dương và băng tan toàn cầu.
- Sụt lún đất vì khai thác nước ngầm quá mức kéo dài.
- Đập thủy điện thượng nguồn Mekong giữ lại phù sa và làm suy giảm dòng chảy mùa khô.
Hậu quả là toàn vùng ĐBSCL ghi nhận hơn 700 điểm sạt lở bờ sông, bờ biển, cuốn trôi nhà cửa, đường sá và đất sản xuất. Trong các đợt hạn mặn gần đây, 3.771 ha diện tích nuôi trồng thủy sản tại Trà Vinh và Sóc Trăng bị thiệt hại do tôm sốc độ mặn và nhiệt độ, gây tổn thất kinh tế đáng kể.
Xem thêm: Biến đổi khí hậu làm ảnh hưởng đến nông nghiệp như thế nào
Hậu quả của biến đổi khí hậu lên sinh kế ven biển
Biến đổi khí hậu không còn là vấn đề môi trường đơn thuần. Nó là bài toán kinh tế vĩ mô. Theo Ngân hàng Thế giới (World Bank), nếu thiếu các biện pháp thích ứng khí hậu, Việt Nam có thể mất 12 – 14% GDP vào năm 2050. Những tác động này đã và đang hiện hữu trong ngư nghiệp và nuôi trồng thủy sản, hai trụ cột của an ninh lương thực và sinh kế ven biển.
Cá cơm là nguyên liệu cốt lõi của nước mắm Phú Quốc, Phan Thiết đang suy giảm cả về trữ lượng lẫn kích thước. Nguyên nhân đến từ nhiệt độ nước biển tăng và thay đổi dòng hải lưu. Khi cá nhỏ hơn và phân bố rải rác, chất lượng và sản lượng nước mắm truyền thống chịu áp lực trực tiếp.
Hay cá ngừ đại dương, mặt hàng xuất khẩu giá trị cao đang di cư ra xa bờ hoặc lặn xuống tầng nước sâu để tránh sóng nhiệt biển. Ngư dân buộc phải kéo dài chuyến biển, làm chi phí nhiên liệu tăng mạnh. Trong khi đó, sản lượng trên mỗi đơn vị nỗ lực (CPUE) lại giảm, khiến hiệu quả khai thác suy yếu.
Nhiệt độ nước cao và biến động độ mặn tạo điều kiện cho vi khuẩn và mầm bệnh phát triển. Dịch bệnh trên tôm và cá nuôi bùng phát thường xuyên hơn, gây thiệt hại hàng nghìn tỷ đồng mỗi năm. Rủi ro này đặc biệt lớn tại các vùng nuôi thâm canh ven biển và cửa sông.
Xem thêm: Hậu quả của biến đổi khí hậu trên mọi lĩnh vực tại Việt Nam
Tóm lại, biến đổi khí hậu đang tác động trực tiếp đến đại dương. Đây không còn là dự báo xa xôi. Nó đã hiện diện trong đời sống hằng ngày của Việt Nam. Từ rạn san hô tẩy trắng ở Côn Đảo đến xâm nhập mặn và hạn hán tại Đồng bằng sông Cửu Long, các dấu hiệu đều chỉ về một thực tế rõ ràng: sức khỏe đại dương quyết định sự thịnh vượng của con người.
Đại dương ấm lên, axit hóa và mất oxy kéo theo hệ quả dây chuyền lên ngư nghiệp, an ninh lương thực và sinh kế ven biển. Khi hệ sinh thái biển suy yếu, nền kinh tế biển cũng trở nên mong manh.




